
Hoà giải trước khi thụ lý đơn kiện là một thủ tục bắt buộc (ảnh minh hoạ)
Luật sư Trần Hồng Phong
Trong một vụ án dân sự hoặc hành chính, sau khi đã nhận đơn khởi kiện/khiếu kiện của người khởi kiện và trước khi chính thức thụ lý đơn khởi kiện, Toà án sẽ thông báo cho đương sự về một thủ tục có tên gọi là “hoà giải" (đối với án dân sự) hoặc “đối thoại” (đối với án hành chính). Đây là quy định tại Luật hoà giải, đối thoại tại toà án (năm 2020). Theo đó, người khởi kiện có quyền đồng ý hoặc không đồng ý việc tiến hành “hoà giải” khi nhận được thông báo của toà án.
Trong giai đoạn này, sẽ có hai trường hợp giải quyết vụ án như sau:
Trường hợp 1: Nếu người khởi kiện không đồng ý hoà giải, toà án sẽ chính thức thụ lý vụ án (nếu đủ điều kiện theo quy định) và giải quyết vụ án theo trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự (đối với vụ án dân sự, kinh tế, lao động); tại Bộ luật tố tụng hành chính (đối với vụ kiện hành chính).
Trường hợp 2: Nếu người khởi kiện đồng ý hoà giải, thì sẽ chọn Hoà giải viên, và tiến hành việc hoà giải theo trình tự, thủ tục quy định tại Luật hoà giải, đối thoại tại toà án. Trong quá trình này, nếu các bên không đạt được thoả thuận (không hoà giải được), thì vụ án sẽ được giải quyết từ đầu như trong trường hợp 1.
Theo đánh giá chủ quan của tôi, thì quy định về việc hoà giải, đối thoại (chỉ mới quy định áp dụng từ ngày 1/1/2021) là có phần thừa (không thật sự cần thiết), làm kéo dài thời gian giải quyết vụ án và thêm thủ tục rắc rối. Vì trong quá trình giải quyết vụ án (sau khi thụ lý), toà án vẫn có thể tiến hành hoà giải nếu các bên đạt được thoả thuận. Tuy nhiên luật đã quy định thì phải thực hiện. Đương sự có quyền và nên gửi văn bản nêu ý kiến "không đồng ý hoà giải" cho Toà, nếu thực sự cảm thấy không thể hoà giải được với người mà mình kiện, và hai bên đã từng gặp nhau nhiều lần trước khi khởi kiện mà không đi đến đâu.
Dưới đây là một số quy định cơ bản và quan trọng tại Luật hoà giải, đối thoại tại toà án (2020) mà những người khởi kiện cần biết để có hướng xử lý phù hợp, hiệu quả cho mình.
Những quy định chung:
Giải thích từ ngữ trong Luật hoà giải, đối thoại tại toà án:
Hòa giải viên: là người được Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh bổ nhiệm để tiến hành hòa giải tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động, yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn (gọi chung là vụ việc dân sự) và đối thoại khiếu kiện hành chính theo quy định của Luật này.
Hòa giải tại Tòa án: là hoạt động hòa giải do Hòa giải viên tiến hành trước khi Tòa án thụ lý vụ việc dân sự, nhằm hỗ trợ các bên tham gia hòa giải thỏa thuận giải quyết vụ việc dân sự theo quy định của Luật này.
Đối thoại tại Tòa án: là hoạt động đối thoại do Hòa giải viên tiến hành trước khi Tòa án thụ lý vụ án hành chính, nhằm hỗ trợ các bên tham gia đối thoại thống nhất giải quyết khiếu kiện hành chính theo quy định của Luật này.
Hòa giải thành: là thông qua hòa giải, các bên tham gia hòa giải tự nguyện thỏa thuận về việc giải quyết toàn bộ hoặc một phần vụ việc dân sự mà phần này không liên quan đến những phần khác của vụ việc dân sự đó.
Các bên tham gia hòa giải: là cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến vụ việc dân sự theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Nguyên tắc hòa giải, đối thoại tại Tòa án
1. Các bên tham gia hòa giải, đối thoại (sau đây gọi là các bên) phải tự nguyện hòa giải, đối thoại.
2. Tôn trọng sự tự nguyện thỏa thuận, thống nhất của các bên; không được ép buộc các bên thỏa thuận, thống nhất trái với ý chí của họ.
3. Bảo đảm bình đẳng về quyền và nghĩa vụ giữa các bên.
4. Nội dung thỏa thuận hòa giải, thống nhất đối thoại không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội, không nhằm trốn tránh nghĩa vụ với Nhà nước hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân khác, không xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác.
5. Các thông tin liên quan đến vụ việc hòa giải, đối thoại phải được giữ bí mật theo quy định tại Điều 4 của Luật này.
6. Phương thức hòa giải, đối thoại được tiến hành linh hoạt, phù hợp với tình hình thực tế, đặc điểm của mỗi loại vụ việc.
7. Hòa giải viên tiến hành hòa giải, đối thoại độc lập và tuân theo pháp luật.
8. Tiếng nói và chữ viết dùng trong hòa giải, đối thoại là tiếng Việt. Người tham gia hòa giải, đối thoại có quyền dùng tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình; trường hợp này họ có thể tự bố trí hoặc đề nghị Hòa giải viên bố trí phiên dịch cho mình.
9. Bảo đảm bình đẳng giới, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của trẻ em trong hòa giải, đối thoại.
Bảo mật thông tin hòa giải, đối thoại tại Tòa án
1. Hòa giải viên, các bên, cơ quan, tổ chức, cá nhân khác được mời tham gia hòa giải, đối thoại không được tiết lộ thông tin mà mình biết được trong quá trình hòa giải, đối thoại.
2. Trong quá trình hòa giải, đối thoại không được ghi âm, ghi hình, ghi biên bản hòa giải, đối thoại. Việc lập biên bản chỉ được thực hiện để ghi nhận kết quả hòa giải, đối thoại theo quy định tại Điều 31 của Luật này. Hòa giải viên, các bên chỉ được ghi chép để phục, vụ cho việc hòa giải, đối thoại và phải bảo mật nội dung đã ghi chép.
3. Cơ quan, tổ chức, cá nhân không được sử dụng tài liệu, lời trình bày của các bên trong quá trình hòa giải, đối thoại làm chứng cứ trong quá trình giải quyết vụ việc theo quy định của pháp luật, trừ các trường hợp sau đây:
a) Bên đã xuất trình tài liệu, trình bày ý kiến trong quá trình hòa giải, đối thoại đồng ý việc sử dụng tài liệu, lời trình bày của mình trong quá trình hòa giải, đối thoại làm chứng cứ;
b) Phải sử dụng làm chứng cứ theo quy định của luật.
Quyền, nghĩa vụ của các bên tham gia hòa giải, đối thoại tại Tòa án
1. Các bên có các quyền sau đây:
a) Đồng ý hoặc từ chối tham gia hòa giải, đối thoại hoặc chấm dứt hòa giải, đối thoại;
b) Trực tiếp hoặc thông qua người đại diện quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 25 của Luật này tham gia hòa giải, đối thoại;
c) Lựa chọn Hòa giải viên trong danh sách Hòa giải viên của Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự, khiếu kiện hành chính; trường hợp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện thì có thể lựa chọn Hòa giải viên của Tòa án nhân dân cấp huyện khác trên cùng phạm vi địa giới hành chính với Tòa án nhân dân cấp tỉnh;
d) Đề nghị thay đổi Hòa giải viên theo quy định của Luật này;
đ) Tự bố trí hoặc đề nghị Hòa giải viên bố trí phiên dịch trong trường hợp người tham gia hòa giải, đối thoại là người không biết tiếng Việt, người khuyết tật nghe, nói hoặc khuyết tật nhìn;
e) Yêu cầu Hòa giải viên, người tham gia hòa giải, đối thoại, cơ quan, tổ chức, cá nhân khác, Thẩm phán tham gia phiên họp ghi nhận kết quả hòa giải, đối thoại giữ bí mật thông tin do mình cung cấp;
g) Bày tỏ ý chí, đề xuất phương thức, giải pháp giải quyết tranh chấp, yêu cầu, khiếu kiện; thống nhất về nội dung hòa giải, đối thoại;
h) Yêu cầu Tòa án công nhận kết quả hòa giải thành, đối thoại thành;
i) Yêu cầu bên có nghĩa vụ thực hiện các nội dung đã hòa giải thành, đối thoại thành;
k) Đề nghị Tòa án có thẩm quyền xem xét lại quyết định công nhận kết quả hòa giải thành, đối thoại thành theo quy định của Luật này.
2. Các bên có các nghĩa vụ sau đây:
a) Tuân thủ pháp luật;
b) Tham gia hòa giải, đối thoại với tinh thần thiện chí, hợp tác để thúc đẩy quá trình hòa giải, đối thoại đạt kết quả tích cực; trình bày chính xác tình tiết, nội dung của vụ việc, cung cấp kịp thời, đầy đủ thông tin, tài liệu, chứng cứ liên quan đến vụ việc theo yêu cầu của Hòa giải viên;
c) Chịu trách nhiệm về tính xác thực của các thông tin, tài liệu, chứng cứ mà mình cung cấp trong quá trình hòa giải, đối thoại; nếu thông tin, tài liệu, chứng cứ cung cấp là giả mạo thi kết quả hòa giải, đối thoại bị vô hiệu; trường hợp có dấu hiệu tội phạm thì bị xử lý theo quy định của pháp luật về hình sự; nếu gây thiệt hại cho cơ quan, tổ chức, cá nhân khác thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật;
d) Tôn trọng Hòa giải viên và các bên có liên quan; thực hiện các yêu cầu của Hòa giải viên theo quy định của Luật này;
đ) Chấp hành quy chế hòa giải, đối thoại tại Tòa án;
e) Thực hiện các nội dung đã hòa giải thành, đối thoại thành.
.....
TRÌNH TỰ, THỦ TỤC HÒA GIẢI, ĐỐI THOẠI VÀ CÔNG NHẬN KẾT QUẢ HÒA GIẢI, ĐỐI THOẠI TẠI TÒA ÁN
Tóm lược:
Việc nhận đơn khởi kiện & thông báo quyền lựa chọn hoà giải/đối thoại:
1. Khi Người khởi kiện nộp đơn khởi kiện, Tòa án nhận đơn, vào sổ nhận đơn, xác nhận việc nhận đơn.
2. Trong thời hạn 02 ngày kể từ ngày nhận được đơn khởi kiện, Tòa án thông báo bằng văn bản cho người khởi kiện về quyền được lựa chọn hòa giải, đối thoại.
3. Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được thông báo của Tòa án, người khởi kiện phải trả lời bằng văn bản cho Tòa án biết về những nội dung đã được Tòa án thông báo. Người khởi kiện có thể trực tiếp đến Tòa án trình bày ý kiến (Tòa án sẽ lập biên bản ghi nhận ý kiến).
Lưu ý: Đơn trả lời thông báo hoà giải của toà án - gửi Toà.
Tòa án sẽ xử lý như sau:
Trường hợp 1. Người khởi kiện đồng ý hòa giải, đối thoại:
Toà án sẽ phân công Thẩm phán phụ trách hòa giải, đối thoại > thực hiện trình tự, thủ tục hoà giải, đối thoại theo quy định của Luật hoà giải, đối thoại tại toà án.
Trường hợp 2: Người khởi kiện không đồng ý hòa giải, đối thoại;
Toà án sẽ chuyển đơn để xử lý (thụ lý) theo quy định của pháp luật về tố tụng (Luật tố tụng dân sự, luật tố tụng hành chính).
Thực tế, việc đương sự không đồng ý hoà giải thường thực hiện theo 2 cách sau đây:
- Sau khi Toà gửi Thông báo về việc hoà giải, đối thoại, đương sự gửi văn bản "Thông báo ý kiến về việc không đồng ý hoà giải" cho Toà. Gửi trực tiếp tại Toà hoặc qua bưu điện.
- Toà án sẽ làm việc trực tiếp với đương sự, lập Biên bản làm việc, xác nhận việc đương sự không đồng ý hoà giải.
4. Nếu người khời kiện không trả lời thông báo của toà án, thì toà án sẽ giải quyết như trường hợp người khởi kiện đồng ý hoà giải (trường hợp 1).
Cụ thể: Nếu quá thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo lần thứ hai mà người khởi kiện vẫn không trả lời thì Tòa án phân công Thẩm phán phụ trách hòa giải, đối thoại để thực hiện nhiệm vụ.
5. Khi người khởi kiện đồng ý hoà giải, Tòa án sẽ thông báo bằng văn bản về việc chuyển vụ việc sang hòa giải, đối thoại và văn bản chỉ định Hòa giải viên cho Hòa giải viên, người khởi kiện, người yêu cầu, người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
…….
* Quy định cụ thể tại Luật hoà giải, đối thoại tại toà án (2020):
Điều 20. Thời hạn hòa giải, đối thoại tại Tòa án
1. Thời hạn hòa giải, đối thoại là 20 ngày kể từ ngày Hòa giải viên được chỉ định; đối với vụ việc phức tạp, thời hạn này có thể được kéo dài nhưng không quá 30 ngày.
2. Các bên có thể thống nhất kéo dài thời hạn hòa giải, đối thoại, nhưng không quá 02 tháng.
Điều 22. Phương thức hòa giải, đối thoại tại Tòa án
1. Hòa giải, đối thoại có thể được tiến hành trong một hoặc nhiều phiên.
2. Việc hòa giải, đối thoại được tiến hành tại trụ sở Tòa án hoặc có thể ngoài trụ sở Tòa án theo lựa chọn của các bên.
3. Phiên hòa giải, đối thoại có thể dược thực hiện bằng hình thức trực tiếp hoặc hình thức phù hợp khác theo đề nghị của các bên.
4. Hòa giải viên có thể tiến hành hòa giải, đối thoại có mặt các bên hoặc gặp riêng từng bên; yêu cầu mỗi bên trình bày ý kiến của mình về các vấn đề của vụ việc dân sự, khiếu kiện hành chính; đề xuất phương án, giải pháp hòa giải, đối thoại.
Trường hợp một trong các bên có người đại diện, người phiên dịch thì Hòa giải viên phải mời họ cùng tham gia hòa giải, đối thoại.
Điều 24. Tiến hành phiên hòa giải, đối thoại tại Tòa án
1. Khi các bên đồng ý gặp nhau để thống nhất phương án giải quyết vụ việc dân sự, khiếu kiện hành chính, Hòa giải viên ấn định thời gian, địa điểm tiến hành phiên hòa giải, đối thoại và thông báo cho các bên, người đại diện, người phiên dịch chậm nhất là 05 ngày trước ngày mở phiên hòa giải, đối thoại.
2. Việc thông báo có thể được thực hiện bằng văn bản hoặc hình, thức khác thuận tiện cho các bên.
.....