Trong giao dịch dân sự, chẳng hạn mua bán nhà, mỗi bên phải bảo đảm có đủ năng lực hành vi dân sự (minh hoạ)
Luật sư Trần Hồng Phong
Năng lực hành vi dân sự là một khái niệm pháp lý cốt lõi nhằm xác định khả năng một người tự mình tham gia vào các giao dịch, hợp đồng và tự chịu trách nhiệm về hành vi đó. Năng lực hành vi dân sự của cá nhân và các vấn đề liên quan quy định tại Bộ luật Dân sự 2015,
Năng lực hành vi dân sự là gì?
Theo Điều 19, "Năng lực hành vi dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân bằng hành vi của mình để xác lập, thực hiện quyền và nghĩa vụ dân sự".
Nói một cách dễ hiểu, đây là năng lực để một người tự mình có thể ký kết hợp đồng, mua bán tài sản, hoặc chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại bằng chính tài sản và hành vi của mình.
Pháp luật phân chia năng lực hành vi dân sự của cá nhân thành các mức độ khác nhau dựa trên độ tuổi và tình trạng thể chất, tinh thần:
Pháp luật phân chia năng lực hành vi dân sự của cá nhân thành các mức độ khác nhau dựa trên độ tuổi và tình trạng thể chất, tinh thần:
A. Năng lực hành vi dân sự đầy đủ (Người thành niên)
Người thành niên là người từ đủ 18 tuổi trở lên. Người thành niên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ (trừ khi bị Tòa án tuyên bố mất, hạn chế hoặc gặp khó khăn trong nhận thức).
Ví dụ: Anh Nguyễn Văn A (20 tuổi) có thể tự mình ký hợp đồng mua bán một chiếc ô tô. Anh A có đầy đủ quyền và nghĩa vụ đối với hợp đồng này mà không cần sự đồng ý của cha mẹ.
B. Năng lực hành vi dân sự chưa đầy đủ (Người chưa thành niên)
Theo Điều 21, người chưa thành niên (chưa đủ 18 tuổi) bị giới hạn về năng lực hành vi dân sự theo từng độ tuổi. Cụ thể như sau:
* Người chưa đủ 6 tuổi: Không có năng lực hành vi dân sự. Mọi giao dịch dân sự đều phải do người đại diện theo pháp luật (cha mẹ, người giám hộ) xác lập và thực hiện.
Ví dụ: Bé B (5 tuổi) không thể tự mua một món đồ chơi trị giá 500 ngàn đồng; người bán phải giao dịch với cha mẹ bé.
* Người từ đủ 6 tuổi đến chưa đủ 15 tuổi: Khi xác lập, thực hiện giao dịch phải được người đại diện đồng ý, trừ những giao dịch phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày phù hợp với lứa tuổi.
Ví dụ: Em C (10 tuổi) có thể tự cầm tiền đi mua bút, vở, đồ ăn sáng (giao dịch sinh hoạt hàng ngày). Nhưng C không thể tự mình đem tiền đi mua một chiếc điện thoại đắt tiền nếu cha mẹ không đồng ý.
* Người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi: Tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự, trừ các giao dịch liên quan đến bất động sản, động sản phải đăng ký (như nhà đất, xe máy) hoặc các giao dịch pháp luật bắt buộc phải có sự đồng ý của đại diện.
Ví dụ: Em D (16 tuổi) dùng tiền làm thêm tự mua một chiếc laptop thì hợp pháp, nhưng D không thể tự đứng tên mua bán một mảnh đất hay xe máy nếu không có cha mẹ đồng ý.
Theo Điều 21, người chưa thành niên (chưa đủ 18 tuổi) bị giới hạn về năng lực hành vi dân sự theo từng độ tuổi. Cụ thể như sau:
* Người chưa đủ 6 tuổi: Không có năng lực hành vi dân sự. Mọi giao dịch dân sự đều phải do người đại diện theo pháp luật (cha mẹ, người giám hộ) xác lập và thực hiện.
Ví dụ: Bé B (5 tuổi) không thể tự mua một món đồ chơi trị giá 500 ngàn đồng; người bán phải giao dịch với cha mẹ bé.
* Người từ đủ 6 tuổi đến chưa đủ 15 tuổi: Khi xác lập, thực hiện giao dịch phải được người đại diện đồng ý, trừ những giao dịch phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày phù hợp với lứa tuổi.
Ví dụ: Em C (10 tuổi) có thể tự cầm tiền đi mua bút, vở, đồ ăn sáng (giao dịch sinh hoạt hàng ngày). Nhưng C không thể tự mình đem tiền đi mua một chiếc điện thoại đắt tiền nếu cha mẹ không đồng ý.
* Người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi: Tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự, trừ các giao dịch liên quan đến bất động sản, động sản phải đăng ký (như nhà đất, xe máy) hoặc các giao dịch pháp luật bắt buộc phải có sự đồng ý của đại diện.
Ví dụ: Em D (16 tuổi) dùng tiền làm thêm tự mua một chiếc laptop thì hợp pháp, nhưng D không thể tự đứng tên mua bán một mảnh đất hay xe máy nếu không có cha mẹ đồng ý.
C. Các trường hợp bị khiếm khuyết về năng lực hành vi dân sự
Pháp luật bảo vệ những người gặp vấn đề về nhận thức hoặc nghiện ngập thông qua các chề định do Tòa án quyết định.
* Mất năng lực hành vi dân sự (Điều 22): Áp dụng cho người bị bệnh tâm thần hoặc bệnh khác không thể nhận thức, làm chủ hành vi. Phải có quyết định của Tòa án dựa trên kết luận giám định pháp y tâm thần. Mọi giao dịch của họ phải do người đại diện thực hiện.
Ví dụ: Bà E bị tâm thần phân liệt, mất nhận thức. Khi đó, theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án tuyên bố bà mất năng lực hành vi dân sự và cử chồng bà làm đại diện. Chồng bà sẽ thay bà quản lý và định đoạt tài sản.
Pháp luật bảo vệ những người gặp vấn đề về nhận thức hoặc nghiện ngập thông qua các chề định do Tòa án quyết định.
* Mất năng lực hành vi dân sự (Điều 22): Áp dụng cho người bị bệnh tâm thần hoặc bệnh khác không thể nhận thức, làm chủ hành vi. Phải có quyết định của Tòa án dựa trên kết luận giám định pháp y tâm thần. Mọi giao dịch của họ phải do người đại diện thực hiện.
Ví dụ: Bà E bị tâm thần phân liệt, mất nhận thức. Khi đó, theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án tuyên bố bà mất năng lực hành vi dân sự và cử chồng bà làm đại diện. Chồng bà sẽ thay bà quản lý và định đoạt tài sản.
* Người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi (Điều 23): Người thành niên do tình trạng thể chất/tinh thần mà không đủ khả năng nhận thức, làm chủ hành vi nhưng chưa đến mức mất năng lực. Tòa án ra quyết định và chỉ định người giám hộ để hỗ trợ họ.
Ví dụ: Cụ G bị di chứng tai biến nặng, tuy không bị tâm thần nhưng lúc nhớ lúc quên, không thể tự quản lý tiền bạc. Theo yêu cầu của người thân, Tòa án có thể tuyên bố cụ G có khó khăn trong nhận thức và cử con trai làm người giám hộ.
* Hạn chế năng lực hành vi dân sự (Điều 24): Áp dụng cho người nghiện ma túy hoặc các chất kích thích khác dẫn đến phá tán tài sản gia đình. Khi Tòa án ra quyết định, việc giao dịch liên quan đến tài sản của người này phải có sự đồng ý của người đại diện (trừ giao dịch sinh hoạt hàng ngày).
Ví dụ: Anh H nghiện ma túy, hay mang đồ đạc trong nhà đi bán. Vợ anh H yêu cầu Tòa án tuyên bố anh bị hạn chế năng lực. Kể từ đó, H không được tự ý bán nhà, xe hay tài sản lớn nếu không có sự đồng ý của vợ.
Lưu ý và lời khuyên của Luật sư Trần Hồng Phong:
1. Năng lực hành vi dân sự của cá nhân tuy là vấn đề có vẻ đơn giản, nhưng lại rất cơ bản và quan trọng; là tiêu chí pháp lý then chốt để bảo vệ các bên trong giao dịch. Việc hiểu rõ mức độ năng lực hành vi cá nhân của người tham gia giao dịch dân sự, sẽ giúp chúng ta/cá nhân tự bảo vệ quyền lợi của mình, tránh việc hợp đồng, giao dịch bị (Tòa án) tuyên vô hiệu do vi phạm điều kiện về chủ thể.
2. Ví dụ: Khi có ý định thực hiện một giao dịch dân sự, chẳng hạn mua bán nhà, điều đầu tiên là quý vị cần xác định mình đang giao dịch với một người có đủ năng lực hành vi dân sự cá nhân không? Giả sử đó là một người có dấu hiệu bị bệnh tâm thần, nói năng không chính xác, khó hiểu ...vv, thì quý vị cần phải tìm hiểu, làm sáng tỏ về năng lực hành vi dân sự của người đó.
3. Cá nhân tôi từng gặp trường hợp một người đàn ông đến nhờ khởi kiện đòi nhà bị vợ chồng một người cháu bà con xa làm giấy tờ giả chiếm nhà. Sau khi xem giấy tờ tài liệu do anh cung cấp thấy có cơ sở, tôi đã ký hợp đồng dịch vụ pháp lý với anh. Nhưng trong quá trình làm việc, tôi nhận thấy anh có dấu hiệu bất thường về hành vi và trí tuệ, nên đã đề nghị anh phải nói rõ. Khi đó anh cho biết mình đang điều trị tâm thần và đưa cho tôi xem sổ khám bệnh bệnh nhân tâm thần. Dù rất thông cảm với hoàn cảnh của anh, biết rõ căn nhà mà anh nhờ tôi đòi là nhà của anh, tôi đã đề nghị huỷ bỏ hợp đồng đã ký. Vì nếu tôi có làm tiếp, sẽ dẫn đến những hệ quả pháp lý không đáng có.
…..
* Quy định tại Bộ luật dân sự 2015:
Điều 19. Năng lực hành vi dân sự của cá nhân
Năng lực hành vi dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự.
Điều 22. Mất năng lực hành vi dân sự
1. Khi một người do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án ra quyết định tuyên bố người này là người mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần.
Khi không còn căn cứ tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự thì theo yêu cầu của chính người đó hoặc của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự.
2. Giao dịch dân sự của người mất năng lực hành vi dân sự phải do người đại diện theo pháp luật xác lập, thực hiện.
.......
Bài liên quan: